|
Login
Categories
Forum Stats
5 top active Forums:
5 recent Topics:
3 top active Posters: Total:
Lastest Links
Online
There are 21 unlogged users and 0 registered users online.
You can log-in or register for a user account here. |
Monday, July 30, 2007 - 04:46 PM
Tôi sinh tại Brooklyn, New York vào ngày 23 tháng 8 năm 1924, và là con cả trong một gia đình có ba người con. Bản thân cha mẹ tôi cùng là người nhập cư. Họ phải đi làm kiếm sống ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông. Bởi vậy, chị em gái, anh em họ tôi và tôi là thế hệ đầu tiên trong gia đình bước vào trường Đại học. Tôi được giáo dục và giáo dục tốt tại các trường công lập vùng lân cận thành phố New York. Ngay từ những năm đầu Tôi đã là học sinh giỏi ở trường và trong năm cuối tại trường trung học tôi trở thành học sinh xuất sắc. Trong thời gian này một cô giáo đã dạy tôi đọc những tác phẩm của các tiểu thuyết gia lớn của Pháp và Nga thế kỷ 19, và giúp tôi hiểu sâu về những tác phẩm này. Tôi nhận được một suất học bổng vào trường Cao Đẳng Havard và nhập học vào tháng 9 năm 1940. Cũng giống như nhiểu đứa trẻ sống trong thời kỳ suy thoái kinh tế, tôi rất tò mò về động cơ thức đẩy xã hội. Ngành học đầu tiên của tôi là Xã hôi học (cùng với Talcott Pasons) và Nhân chủng học (cùng với Clyde Kluckholm) cũng như Kinh tế học cơ bản. Cuối năm 1942, khi tôi 18 tuổi, dường như có nhiều vấn đề cấp bách và thôi thúc tôi hơn những gì tôi đang làm, bởi vậy tôi dời trường đại học và tham gia vào quân đội. Tôi đóng quân phần lớn tại Bắc Phi và Sicily, và rồi sau đó từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc chiến tranh tôi đóng quân tại Ý, cho tới khi được giải ngũ vào tháng 8 năm 1945. Tôi cho rằng ba năm phục vụ trong quân đội đó đã hình thành nên tính cách của tôi. Tôi là một thành viên của nhóm đoàn kết. Chúng tôi giúp đỡ nhau thực hiện những công việc năng nhọc. Đứng đầu nhóm là một người đàn ông phi thường nhất mà tôi đã từng biết, người không bao giờ lẫn lộn giữa sự hóm hỉnh và nghiêm túc. Một lần nữa tôi lại trải qua những việc giống như vậy: tại Hội đồng cố vấn kinh tế của Walter Heller (cùng với James Tobin, Kermit Gordon và Arthur Okun) và trong suốt cuộc đời sau này của tôi là tại Khoa kinh tế của M.I.T. Cho đến nay, đó vẫn là một trong những môi trường làm việc tôt nhất của tôi. Điều còn lại duy nhất mà một người có thể đòi hỏi lúc này là một cuộc sống gia đình hạnh phúc và ấm cúng, và tôi chắc chắn đã có được điều đó. Khi trở về Harvard năm 1945, bấy giờ đã quen thuộc với người đọc và người viết chữ - V đó, hoàn toàn ngẫu nhiên, tôi đã chọn tiếp tục học ngành Kinh tế. Thật may mắn, Wassaily Leontief đã trở thành giáo viên, người hướng dẫn và là một người bạn của tôi. Tôi học tập từ ông tinh thần cũng như bản chất của lý thuyết kinh tế hiện đại. Ông cũng là người chịu trách nhiệm giới thiệu công việc thực hành cho tôi: là trợ lý nghiên cứu cho ông tôi đã đưa ra một tập hợp đầu tiên những hệ số tư bản cho mô hình đầu ra - đầu vào. Vì một lý do nào đó, tôi cũng không rõ, tôi trở nên quan tâm đến những mô hình xác suất - thống kê. Những ngày đó, công việc giảng dạy bộ môn thống kê tại Havard, nói một cách thiện cảm, đã bị chệch hướng. Tôi học tập được rất nhiều từ Frederick Mosteller, người được bổ nhiệm giảng dạy tại Khoa Quan hệ xã hội. Cuối cùng, ông khuyên tôi nên tập trung nghiên cứu sâu vào một lĩnh vực phù hợp hơn. Bởi vậy, vào năm 1949-50, tôi dành một năm học bổng nghiên cứu sinh tại Đại học Columbia, tham dự những bài giảng của Abraham Wald, Jacob Wolfowitz và T.W. Anderson, cùng với các sinh viên nghiên cứu và bạn tôi, Jack Kiefer. Trong năm đó, tôi cũng tiếp tục nghiên cứu luận án tiến sĩ của mình, nỗ lực khảo sát những sự thay đổi điển hình trong qui mô phân phối thu nhập tiền công, sử dụng những quá trình Markoff đối với sự thất nghiệp - có việc làm và tỷ lệ tiền công. Luận án này đã được trao giải thưởng Wells tại Havard, cùng với một lời đề nghị xuất bản thành sách và 500 đô la tiền thưởng (theo giá năm 1951) khi luận án hoàn thành. Tuy vậy, khi đọc lại luận án, tôi nghĩ mình đã có thể làm tốt hơn. Nhưng tôi không bao giờ quay trở lại công việc đó nữa và luận án vẫn chưa được xuất bản (và tấm séc thì vẫn chưa chuyển thành tiền mặt). Ngay trước khi dời Columbia, tôi được trao một học bổng làm trợ lý giáo sư tại Khoa kinh tế của M.I.T. Tôi chưa bao giờ được nhận hay mơ ước một công việc khác nào hơn. M.I.T thuê tôi chủ yếu để dạy các khoá học về thông kê và toán kinh tế. Ban đầu, tôi luôn dự định hướng sự nghiệp theo con đường này. Nhưng mọi việc lại không theo cách ấy, có thể bởi lý do địa lý. Tôi được giao cho một phòng làm việc ngay cạnh phòng của Paul Sammuelson. Và bắt đầu từ ngày đó trong suốt 40 năm, ngày nào chúng tôi cũng nói chuyện vể kinh tế, chính trị, con cái của chúng tôi, cải bắp và những vị vua. Đó là một phần vô cùng quan trọng trong sự nghiệp của tôi. Tôi cho rằng một điều tất yếu là tôi nên quay lại kinh tế học "chính qui", nơi tôi đã khẳng định bản thân với tư cách là một nhà kinh tế học vĩ mô. Khoa Kinh tế của M.I.T là một nơi tuyệt vời để giảng dạy và làm việc. Nó đã đem đến cho tôi - không chỉ riêng tôi - những người bạn đồng nghiệp thông minh và thú vị, cùng với một lớp những sinh viên xuất sắc. Tôi ước lượng rằng nếu tôi bỏ mặc những sinh viên thì tôi có thể viết thêm được 25 phần trăm những nghiên cứu khoa học. Đây là một sự lựa chọn dễ dàng và tôi không bao giờ hối tiếc về quyết định của mình. Robert M. Solow - Bài phát biểu tại buổi lễ. Bài phát biểu của Robert M. Solow tại lễ trao giải Nobel ngày 10 tháng 9 năm 1987. Kính thưa Đức Vua, Hoàng Thân, quý ông và quý bà. Bẩy tuần đã trôi qua kể từ khi tôi được biết mình là người đoạt giải Nobel. Trong suốt thời gian đó, tôi đã được hỏi ý kiến làm thế nào để giải quyết những vấn đề kinh tế của Hoa Kỳ, Na Uy, Thụy Điển, CHLB Đức, Israel, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha, Argentina, Brazil, Mexico, Philippines, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Chắc chắn rằng tôi biết câu trả lời cho tất cả những câu hỏi đó, nhưng sẽ thật không công bằng nếu tôi đưa ra câu trả lời quá sớm. Bởi vậy tôi muốn nói về một điều khác, thậm chí không phải về bản thân tôi. Chắc chắn rất nhiều người trong căn phòng này, ngay tại căn phòng này, biết được rằng Thụy Điển - một đất nước nhỏ bé chỉ với vài tiếng đồng hồ trời sáng vào mùa đông - có một truyền thống lâu đời về kinh tế học. Hãy trở lại khoảng thời gian trước thế kỷ này với những cái tên vô cùng vĩ đại như Knut Wicksell, David Davidsson và Gustav Cassel, và còn tiếp tục cho tới ngày hôm nay. Vào những năm 30, 40, và 50, nền kinh tế Thụy Điển đã hồi sinh một cách đáng kinh ngạc, và nổi tiếng khắp thế giới như Trường học Stockholm. Không ít hơn năm cái tên được kỷ niệm trong kinh tế học: Erik Lindahl, Ingvar Svennilsson, Gunnar Myrdal, Bertil Ohlin, và Erik Lundberg. Tôi muốn nhắc tới họ một cách cụ thể và rõ ràng bởi vì thời gian trôi đi tôi có thể sẽ là người đoạt giải cuối cùng nhắc tới tên họ. Còn nhiều thành viên xuất sắc khác của Trường Stockholm mà tôi nên nhắc tới ở đây như là Dag Hammarskjöld, người thường được biết đến nhiều hơn trong những lĩnh vực khác. Tôi rất muốn nói vài lời về người bạn của tôi Erik Lundberg, người đã mất cách đây 3 tháng. Erik Lundberg không chỉ là một nhà kinh tế học lớn mà còn là một con người tuyệt vời. Vào cuối buổi hội thảo bàn về những vấn đề phức tạp, chỉ có Erik Lundberg mới có thể đưa ra nhận xét rằng lúc bắt đầu cuộc hội thảo ông cảm thấy bối rối và khi cuộc hội thảo kết thúc, ông còn cảm thấy bối rối hơn. Sự bối rối của anh ấy có giá trị nhiều hơn là sự chắc chắn của nhiều người khác. Tôi thật buồn vì không gặp được ông ở đây, tôi biết nếu thấy tôi ở đây, ông sẽ mừng lắm. Quả là một niềm hạnh phúc khi được đứng tại nơi này, và tôi muốn cảm ơn các đồng nghiệp của tôi tại Viện khoa học Hoàng Gia Thụy Điển và cảm ơn tất cả các quý vị. Trích từ Les Prix Nobel 1987. Bài này xuất xứ từ Trang Kinh Tế Copyright (c) 2006 by kinhtehoc.com |