kinhtehoc.com

Hội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích

Login




 


 Log in Problems?
 New User? Sign Up!
Forum Stats

5 top active Forums:

5 recent Topics:

3 top active Posters:

Total:
  • Categories: 5
  • Forums: 11
  • Topics: 507
  • Posts: 861
Online
There are 15 unlogged users and 0 registered users online.

You can log-in or register for a user account here.
Wednesday, November 22, 2006 - 11:45 AM

Printer-friendly page
Lý Luận

Phần III

Chương 6

Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ[67]

Võ Hồng Long dịch

Một bài luận, về bản chất là một luận điểm được mở rộng; trong đó người viết khẳng định lại về chủ đề (khẳng định này thường được gọi là kết luận) bằng cách lý giải thông qua những ví dụ cụ thể (cơ sở để minh chứng cho kết luận). Nhiệm vụ của các bạn là thực hành và kiểm tra những lý giải của các tác giả khác. Khi bạn hiểu được làm thế nào tác giả mà bạn đọc đi đến một kết luận nhất định, bạn có thể đồng ý, phản đối, hoặc sửa chữa những luận điểm với cách thức cho phép. Nếu bạn trình bày quan điểm của bạn dưới dạng một bài luận bạn có thể đưa ra dưới dạng một cử chỉ đáng tin, một tín hiệu mà bạn có thể lý giải từ những cơ sở đến kết luận. Bạn không chỉ đơn giản là tổng kết lại những điều mà bạn đọc; bạn phải chứng minh rằng bạn đã suy nghĩ về vấn đề mà bạn nghiên cứu và đọc.

Nhận lấy những ý kiến của bạn theo cách này là một thử thách; tuy nhiên viết một bài luận một cách mạch lạc, chín chắn là một thủ thuật. Giống như những thủ thuật khác, điều đó có thể, với thực tế, nó cần được kiểm soát. Khi bạn phát triển kỹ năng viết của mình, bạn nên áp dụng những điều đã đọc trong sự lý giải hợp lý, nghiên cứu các cách mà các sai lầm đã xuất hiện trong các luận điểm mà bạn đã đọc và viết về. Tuy nhiên bạn cũng nên nhớ rằng viết một bài luận liên quan nhiều hơn là hiểu về sự lý giải hợp lý hay không hợp lý. Để viết một bài luận một cách hiệu quả, bạn phải phân tích và hiểu chủ đề, dự định và xắp xếp những từ và phong cách mà bạn sử dụng để viết, và suy nghĩ một cách thận trọng về người đọc của bạn, họ là ai và làm sao bạn có thể thuyết phục họ chấp nhận những luận điểm của bạn một cách nghiêm túc.

Một cách chính xác hơn, những bộ phận của một bài luận phải lo-gic, đúng ngữ pháp, và tu từ. Lo-gic là quá trình lý giải bạn đã áp dụng trong suốt quyển sách này; trình bày cho những đọc giả của bạn với những luận cứ (Mọi người đều phải chết. Socrates là một con người.) Và một kết luận xuất phát từ những cơ sở đó (Socrates cũng sẽ chết). Ngữ pháp là nói đến cấu trúc của các câu. Ví dụ như trong câu sau:

Socrates (chủ ngữ của câu)

là (động từ, liên từ)

một con người (là bổ ngữ, để bổ sung, mô tả chủ ngữ)

Tu từ là các cách mà chúng ta sử dụng ngữ pháp và lo-gic để khơi dậy, thu hút và thuyết phục người đọc. Ví dụ như kết luận rằng Socrates cũng sẽ chết là đúng và ngữ pháp của nó là minh bạch. Tuy nhiên một người viết luận có thể sử dụng lo-gic và cú pháp của thuyết tam đoạn luận của Socrates để đạt được một kết luận có liên quan nhưng thiếu tính chứng minh hơn:

Chúng ta biết rằng mọi người đều phải chết, và Socrates không phải là một ngoại lệ. Socrates đã không còn đối với chúng ta; chúng ta chỉ biết những lời giải thích của Plato về lời nói của Socrates. Không có gì trên đời này là tồn tại mãi mãi. Chúng ta chết đi, mặc dù những suy nghĩ của chúng ta vẫn sống trong những quyển sách, mặc dù tiểu sử của chúng ta vẫn được ghi chép nhưng chúng ta không thể tự nói cho chính mình. Cái chết của chúng ta có nghĩa là những người khác đã nói hộ cho chúng ta; khi mất đi cơ thể của mình cũng có nghĩa là mất đi tiếng nói.

Chú ý trong đoạn trên đã sử dụng lo-gic và ngữ pháp để đạt đến một kết luận mới, một kết luận dựa trên tài hùng biện và phong cách cũng như những câu đúng ngữ pháp và lý giải hợp lý. Trong trường hợp này, những câu nói ngắn và súc tích được thay đổi bằng câu dài và chi tiết hơn, như trong luận điểm liên hệ giữa Socrates và mọi người để đạt đến một sự khẳng định về cái chết. Nếu người viết đoạn trên quan tâm đến việc thuyết phục một người đọc nào đó; có một mục tiêu trong suy nghĩ, người viết sẽ mở rộng những quyết định rõ ràng mạch lạc và hợp lý để giảm đi những nhận định không rõ ràng và khó diễn đạt, và thay đổi cú pháp để đạt đến một giọng điệu thuyết phục. Kết quả tạo ra một tâm trạng và giọng điệu có thể gây ảnh hưởng đến người đọc. Từ ví dụ này, bạn có thể thấy rằng lo-gic, cấu trúc câu và kỹ năng thuyết phục gắn bó với nhau trong quá trình viết một bài luận.

1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận

Hãy giả định rằng bạn được giao nhiệm vụ viết một bài luận từ ba đến năm trang cho lớp của mình. Nhiệm vụ đó có thể được chỉ dẫn bằng một cấu trúc hoàn toàn dễ hiểu. Mặc dù những bài luận có nhiều dạng và quy mô, kết cấu dễ dàng nhất mà bạn sẽ áp dụng (và sửa đổi nếu bạn muốn) sẽ là một bài luận theo truyền thống gồm ba phần. Sự mô tả sau đây về cấu trúc này, cùng với bài luận của sinh viên được sử dụng để chứng minh, phù hợp với các cách viết lập luận truyền thống. Một bài lập luận đã lấy một kết luận về một vấn đề, hoặc một kết luận đặc biệt đến một tác giả khác, và đồng ý với, hoặc không đồng ý với, hoặc đôi khi sửa đổi những kết luận đó. Đó là việc trình bày những luận cứ được tổ chức theo các đoạn văn mạch lạc và hợp lý. Cấu trúc như vậy được tổ chức như sau.

Mở đầu

Một bài luận truyền thống được bắt đầu bằng cách giới thiệu về chủ đề. Bên cạnh đó nó nêu ra một luận đề[68] mà tác giả muốn chứng minh. Đoạn văn đầu tiên của một bài luận thường được gọi là giới thiệu. Hãy xem một sinh viên đã bắt đầu một bài luận của mình về Socrates:

"Năm 399 trước công nguyên một người đàn ông tên là Socrates đã được đưa ra toà xét xử và bị buộc tội chết bởi người được cho rằng là do chúa phái đến để giúp đỡ và cải tạo. Sự buộc tội chống lại ông ta là gấp đôi. Ông bị buộc tội về, đầu tiên là tư tưởng vô thần hay "không tin vào chúa, người mà cả cộng đồng đều tin vào, mà lại tin vào những thần thánh khác" (Tội lỗi 24b). Thứ hai, ông bị buộc tội vì đã làm vẩn đục tâm hồn những người trẻ tuổi. Socrates đã bị xét xử do những luận điểm này bởi hội thẩm gồm những người ngang hàng ông, và sự kết tội đối với ông phản ánh rằng ông đã vượt quá giới hạn của pháp luật đã duy trì xã hội Athen. Tuy nhiên có thể tìm thấy những lý do phức tạp hơn để lý giải cho hình phạt tử hình đối với Socrates đó là người dân Athen cảm thấy bị đe doạ về mặt cá nhân cũng như về phương diện văn hoá bởi những điều mà Socrates dạy."

Tác giả này đã bắt đầu đoạn văn của mình thông qua quá trình sau: (1) đưa ra chủ đề là sự xét xử đối với Socrates và hình phạt, (2) thu hẹp và tập trung chủ đề vào vấn đề hình phạt chống lại Socrates, và (3) để người đọc biết được ý định của người viết là không đồng ý với phán quyết tử hình chỉ vì phá vỡ các luật lệ; người viết cho rằng lập luận của mình sẽ tập trung vào việc người Athen phản ứng đối với những gì mà Socrates giảng dạy. Sự mở đầu này chuẩn bị cho người đọc biết được vấn đề được bàn đến và thu hẹp nội dung chủ đề đã được xác định. Kết luận, hay luận đề đó được người viết trình bày một cách lưu loát; với tư cách người đọc chúng ta sẵn sàng cho một cuộc thảo luận tại sao người viết đặt ra vấn đề và xem xét tầm quan trọng của "những sự thực" xung quanh cái chết của Socrates.

Thân bài

Mỗi đoạn văn trong phần thân bài của một bài luận trình bày và phát triển các luận điểm của tác giả với sự chi tiết và các ví dụ (thường gọi là các bằng chứng) để chứng minh kết luận đã đưa ra. Bạn có thể có được cái nhìn tổng quan về cấu trúc của một bài luận bằng cách xem xét bốn đoạn văn tiếp theo của bài luận này trong đó người viết trình bày những phát hiện của mình xoay quanh nguyên nhân dẫn đến cái chết của Socrates:

Để hiểu được quyết định của người dân Athen, chúng ta phải tìm hiểu những tình huống xung quanh vụ xét xử, cũng như làm quen với đặc điểm của Socrates và những lời buộc tội. Tác phẩm Lời thú tội của Plato, là cơ sở tin cậy để hiểu được triết lý của Socrates, đưa ra những chứng minh có giá trị của Socrates và những phương pháp suy luận của ông. Socrates tự bảo vệ mình bằng những lo-gic và chân giá trị, bác bẻ lại những sự cáo buộc chống lại ông, cũng như những điều chưa được nói ra. Khi ông tuyên bố trong vụ án, Socrates nhắc đi nhắc lại với bồi thẩm đoàn rằng những điều ông nói ra là sự thật, mọi sự suy luận không phải bao giờ cũng khó phát hiện và những người buộc tội ông đã lừa dối. Bên cạnh đó, ông liên tục nói rằng hoạt động của ông là bổn phận hay nghĩa vụ tôn giáo được giao cho ông bởi chúa trời. Theo sự giải thích của Plato tại phiên toà, Socrates những điều mà chúa trời ban ra, không một người nào có thể phán xét. Không một lần, ngay cả sau khi ông bị kết tội chết, Socrates kêu gọi lòng thương xót của các vị bồi thẩm hay cố gắng xu nịnh họ; ông thậm chí còn đi xa hơn khi nói rằng nếu ông được tha thì ông lại tiếp tục những hoạt động khiến ông bị đưa ra xét xử. Socrates sau lúc đó trở thành một con người với nghĩa vụ tôn giáo không thể bị lay chuyển bởi ý kiến của người Athen rằng ông đã phá vỡ các quy tắc đã điều chỉnh cuộc sống của thành phố này.

Đoạn văn thứ hai này đưa ra bối cảnh để hiểu được những luận điểm của người viết trong đó nó thay đổi hình ảnh của Socrates là một người "bị buộc tội nghịch đạo" trở thành một Socrates là "một người bị kết tội". Mặc dù tác giả đã đưa ra chủ đề và kết luận trong phần đầu tiên của bài luận, trong phần thân bài của bài luận người viết tiếp tục làm rõ chủ đề bằng cách trình bày cái nhìn cụ thể về những động cơ và cư xử của Socrates. Bằng cách đó người viết đã thu hẹp chủ đề và những ví dụ cụ thể được đưa ra để làm rõ luận chứng. Phần còn lại của phần thân bài đưa ra những luận điểm chắc chắn rằng Socrates đã tuân thủ pháp luật của chúa trời hơn là pháp luật của xã hội:

Vậy những cái gì đã làm cho hoạt động của Socrates không được chấp nhận đối với nhiều người? Socrates tin rằng ông là món quà của chúa trời dành cho người dân Athen, được gửi đến để mở rộng tầm mắt đối với những khiếm khuyết của họ, để họ có thể sửa chữa những khiếm khuyết đó. Phương pháp của Socrates là: gặp những người tự cho mình là thông minh, Socrates sẽ, như Plato nói, "đến với sự giúp đỡ của chúa trời và chỉ cho người đàn ông đó thấy rằng ông ta không phải là người thông minh".(23c) ông sẽ đặt vấn đề với người đàn ông đó về niềm tin của ông ta và những khẳng định, buộc ông ta nhận thấy rằng những ý kiến của ông ta đầy mâu thuẫn. Socrates cảm thấy rằng nếu mọi người nhận thức được sự ngu dốt của họ, họ sẽ bắt đầu đi tìm kiếm sự thật; trong suy nghĩ của Socrates, những người chối bỏ sự ngu dốt của mình không thể suy nghĩ và hành động giống như chúa mong muốn ở họ. Tuy nhiên Socrates liên tục thách thức cộng đồng người Athen và khiến cho những công dân của họ lên án cả nhà triết học và triết lý của ông.

Tuy nhiên khó khăn không đặt lên Socrates nhiều bằng bản thân những người dân Athen. ở mức độ cá nhân, một người dân Athen có thể cảm thấy xấu hổ và bẽ mặt khi Socrates đặt ra vấn đề làm phơi bày những khiếm khuyết và mâu thuẫn trong khả năng của họ để suy nghĩ một cách khôn ngoan. Những vấn đề của ông làm cho những người nói chuyện với ông nhận thấy một cách khó chịu về sự ngu dốt của họ, cũng như trở nên ngớ ngẩn, thường là trước mặt những người khác. Hãy lấy ví dụ về phản ứng của ông đối với các quan toà về việc họ cáo buộc ông là nghịch đạo và ngạo mạn đối với chúa: "có thể rằng chúa trời thông thái… và khi ông nói về người đàn ông này, Socrates, ông đang sử dụng tên của tôi như là một ví dụ như thể ông đã nói: 'người đàn ông này trong số các bạn, những con người, là thông thái nhất, giống như Socrates, ông hiểu được trí khôn của ông là vô giá trị".(23b). ở đây đã nhẹ nhàng phá bỏ những cơ sở của những giả định của người dân Athen là Socrates nghĩ bản thân ông ta đứng trên cả chúa trời; ngay lúc đó ông đã cho thấy mình là một con người cực kỳ sùng đạo (đạo đức giả). Thái độ như vậy chỉ làm các quan toà cảm thấy ngu ngốc, do đó họ, giống như Euthyphro trong cuộc đối thoại của Plato, chờ đợi một sự trốn thoát khỏi những điều sỉ nhục.

Ở mức độ lớn hơn, Socrates đã thách thức cấu trúc xã hội Athen, chỉ ra những khiếm khuyết mà những công dân của thành phố đã không nhìn thấy. Những người Athen nhanh chóng muốn tống khứ con người đã phơi bày những thất bại cá nhân của họ và phá vỡ những chuẩn mực xã hội đã được thiết lập. Để vấn đề xấu hơn, Socrates đã chỉ ra những vấn đề mà không kèm theo giải pháp. Nếu ông đề nghị một sự thay thế, mọi người sẽ thấy rằng những điều mà ông chỉ bảo sẽ dễ nuốt hơn, hoặc ít nhất họ tìm thấy những lý do chắc chắn để đưa ông ra toà. Socrates chỉ nói đến những người Athen biết nhận thức để họ nhận ra những sai lầm của mình để mà sửa chữa. Socrates đã so sánh những người dân Athen như những con ngựa đang mê ngủ và có thể bị đánh thức dậy và hoạt động bởi những sinh vật nhỏ bé có vòi đâm. Những người dân Athen có thể khó chịu bởi những sinh vật này, Socrates, và bị đánh chết.

Bốn đoạn văn đã nêu ra và phát triển hai luận điểm: đầu tiên là Socrates là một người tôn thờ những luật lệ của chúa trời, và thứ hai là người dân Athen cho rằng những triết lý của ông và cách mà ông bày tỏ những triết lý đó đe doạ họ về phương diện cá nhân và văn hoá. Đến đây người viết bắt đầu đạt được sự chứng minh trong kết luận của mình trong đó người viết trình bày những luận điểm bác bỏ lại ý kiến cho rằng Socrates đơn thuần bị kết tội chết vì ông bị phán xử là một tội phạm.

Tuy nhiên, đoạn văn này sẽ phải tiếp tục nếu nó muốn làm rõ một luận cứ khác làm cơ sở cho luận điểm của nó: rằng những người dân Athen không nhìn thấy những khiếm khuyết của họ trong quá trình suy luận cũng như những khiếm khuyết trong văn hoá Athen. Những nhận định đó không thể được chứng minh vượt ngoài sự ngờ vực. Với ý đó, người viết trình bày một đoạn văn truyền thống thuyết phục sự chấp nhận của chúng ta về sự thật bản chất con người, và đưa ra 2 điều tương tự để chứng minh cho sự thật đó:

Sự miễn cưỡng tìm kiếm một sự cải thiện trong bản thân và xã hội có phải là đặc tính của riêng người dân Athen không, hay là nó còn mang một nghĩa rộng hơn? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải xác định xem những tính được phô bày bởi những người cùng thời với Socrates là khác biệt với xã hội của họ, hay đó là những đặc điểm vĩnh viễn.

Chúng ta có thể giải quyết vấn đề này bằng cách trước hết xác nhận rằng giống như những người Athen hầu hết mọi người đều không thích chứng kiến sự thiếu sót và yếu kém của mình. Ví dụ như người say rượu. Người ta thường nói rằng bước lớn nhất để làm thức tỉnh người nghiện rượu là làm cho người bệnh thừa nhận vấn đề của họ và tìm kiếm sự giúp đỡ. Bước này được xem là quan trọng nhất bởi vì lý do sau: những người có vấn đề về uống rượu không có khả năng thừa nhận hoặc là thậm chí nhận ra là họ không thể kiểm soát việc uống rượu của họ. Họ khẳng định rằng có thể ngừng uống rượu bất cứ lúc nào. Họ không muốn đối mặt với vấn đề, thậm chí ngay cả khi họ biết rằng việc nghiện rượu có thể pháp bỏ sự nghiệp,hôn nhân và gia đình. Nói tóm lại, họ sống một cuộc sống tự lừa dối bản thân. Mặc dù họ có thể biết cách nhận thức được tình trạng của họ, nhưng họ đã không làm được như vậy.

Người ta thường cho rằng con người thường không muốn niềm tin của họ được đem ra tranh cãi. Như ngôi nhà được xây dựng trên nền móng, họ xây dựng cuộc sống của mình trên cơ sở những niềm tin, và nếu móng của ngôi nhà bị lung lay, ngôi nhà có thể bị đổ. Mặc dù mọi người thích thú với một số thay đổi, nhưng họ lại sợ những sự thay đổi đòi hỏi sự điều chỉnh lại hoàn toàn cuộc sống và cách suy nghĩ của họ. Việc đề nghị những điều như thế dường như đe doạ, thậm chí làm mất phẩm giá cá nhân.

Những người mà gieo rắc sự ngờ vực vào đầu người khác về sự công bằng trong những giả thuyết của họ, đặc biệt là người… chắc chắn bị coi là kẻ thù bất kể là xã hội mà họ đang sống là xã hội nào. Dường như Socrates đã bị loại bỏ bởi cộng đồng của ông bất kể là ông được sinh ra lúc nào và ở đâu. Mọi người sẽ bực tức khi ông có gắng giúp họ tự cải tạo cho dù là họ sống ở Athen, 399 tcn., hoặc sống ở thành phố New York năm 1993.

Bạn đã thấy rằng phần thân bài của bài luận này được cấu thành hai phần: phần đầu tiên là giải thích lại niềm tin của Socrates và những hành động và phản ứng của người dân Athen đối với những hành động đó, trong khi đó phần hai là sự giải thích khéo léo, mặc dù có tính tranh luận, về động cơ của con người và những ứng xử. Phần thân bài, trình bày điều chủ chốt của một lập luận, điều đó luôn luôn đúng. Cấu trúc của nó có thể thay đổi, nhưng nó luôn được trình bày cẩn thận từng luận cứ một để chứng minh cho luận đề đã đưa ra ở phần đầu tiên của bài luận. Bên cạnh đó, phần thân bài còn là mối quan tâm đặc biệt của người viết, đó là cách người viết trình bày một cách rõ ràng sự giải thích của mình về động cơ của Socrates và hành động của người dân Athen.

Phần kết

Phần kết của một bài luận đóng vai trò là sự tóm tắt lại kết luận và những luận cứ đã được trình bày trong phân mở đầu và phần thân bài; sự tổng kết đan cấu các luận điểm mà tác giả đã trình bày theo trình tự. Ví dụ, bài luận văn của sinh viên này nối lại hai phần của thân bài mà cô ta đã trình bày để làm sáng tỏ luận điểm và cô ta muốn trình bày, khi đã giới thiệu trong định đề:

Vậy tại sao Socrates lại bị kết tội? Bản kết tội đã tuyên chưa hẳn đã giải thích được tại sao ông lại bị chết. Bản kết tội này chẳng qua chỉ là những tập tục mà những kẻ chống đối ông xây dựng một lập luận pháp lý để chống lại những hoạt động của ông và đưa ông ra toà. Socrates không phải chết vì ông là một người vô thần hay là người đã đầu độc tâm hồn của những người trẻ tuổi, mà ông chết bởi vì những sự cáo buộc không được nói ra. Những sự cáo buộc này như đã được nói ở trên gồm có hai phần. Đầu tiên, Socrates đã phơi bày sự dốt nát và yếu đuối của những con người ở Athen, và điều đó làm phát sinh sự bực tức ở họ. Thứ hai, việc đặt vấn đề một cách nghiêm túc của ông cuối cùng sẽ dẫn đến sự đe doạ an ninh của xã hội Athen, điều này khiến cả cộng đồng Athen tấn công ông. Ông đã bị giết bởi xã hội mà ông đã tìm kiếm để cải tạo, bởi vì các công dân trong xã hội đó từ chối việc cho rằng họ cần được cải tạo. Người dân Athen không chào đó những người như Socrates, và dường như là bất cứ người nào hoặc cộng đồng nào xem những lời phê bình như là sự đe doạ cũng sẽ có những xử sự như vậy.

Phần kết luận hiệu quả và cẩn trọng này đã tổng kết những luận cứ để chứng minh kết luận đó. Do đó có thể nói rằng phần kết không chỉ đơn thuần nhắc lại những điểm chính yếu đã được nêu ra; phần kết còn phải là một nỗ lực sau cùng nhằm thuyết phục người đọc về luận đề, và dựa trên những luận cứ đã được trình bày trong phần thân bài nhằm giúp người đọc hiểu rõ được lập luận của người viết. Giờ đây, bạn đã xem xét qua về cấu trúc của một bài luận, hẳn là bạn đã có một số ý tường về cấu trúc bài luận, bởi vì cách mà bạn tổ chức ý tưởng của mình sẽ giúp bạn định hình ý tưởng của mình. Nếu bạn giải quyết nhiệm vụ viết lách của mình với những hiểu biết về thuật viết lách, bạn sẽ làm việc, và bạn sẽ thấy lập luận của bạn sẽ được xây dựng một cách dễ dàng hơn khi bạn không có một ý niệm nào về hình thức bạn muốn sử dụng.


[67] Writing with Clarity and Reason
[68] thesis

Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.

Morris S. Engel. Với Lý Luận Giỏi -- Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường. x/b 5th. New York: St. Martin's Press, 1994.

Phần I

Chương 1: Bản Chất và Phạm Vi của Lo-gic

1. Lý Luận vừa là Một Môn Khoa Học và Môn Nghệ Thuật

2. Lo-gic là Nghiên Cứu về Tranh Luận

3. Tranh Luận và Không-Tranh-Luận

4. Loại Bỏ Sự Dông Dài

5. Những Bộ Phận Khuyết Thiếu

6. Làm Nổi Bật những Thành Phần Khả Nghi

7. Đánh Giá các Tranh Luận: Đúng, Giá Trị và Hợp Lý

8. Những Tranh Luận Suy Diễn và Quy Nạp

9. Lý Luận và Giáo Dục

10. Tóm Tắt

Chương 2: Phương Tiện Truyền Đạt của Ngôn Ngữ

1. Ngôn Ngữ và Tư Duy

2. Dấu Hiệu và Biểu Tượng

3. Từ ngữ và Vật Chất

4. Sự Hữu Dụng của Ngôn Ngữ

5. Sự Tối Nghĩa và Mơ Hồ

6. Những Tranh Luận về Từ Ngữ

7. Định Nghĩa

8. Nghệ Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp

9. Tóm Tắt

Phần II

Chương 3: Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa

0. Ngụy Biện" hay "Sai lầm"

1. Lối Nói Lập Lờ

2. Câu Nói Nước Đôi

3. Dấu Trọng Âm

4. Phép Tu Từ

5. Sự Phân Hóa và Kết Cấu

6. Tóm Tắt

Chương 4: Những Ngụy Biện của Giả Định

Bỏ Qua Những Yếu Tố Cơ Bản

1. Khái Quát Hoá

2. Gôm Đũa Cả Nắm

3. Lý Luận Rẽ Đôi

Lảng Tránh Sự Thật

4. Lập Lại Vấn Đề

5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến

6. Phức Tạp Hóa Vấn Đề

7. Biện Hộ Đặc Biệt

Bóp Méo Sự Thật

8. Tương Đồng Giả Tạo

9. Sai Nguyên Nhân

10. Lý Luận Rập Khuôn

11. Luận Điểm Không Phù Hợp

12. Tóm Tắt

Chương 5: Ngụy Biện Tính Xác Đáng.

1. Công Kích Cá Nhân

Căn nguyên

Lăng mạ

Suy diễn gián tiếp

Xem ai nói đó

Đầu độc nguồn nước

2. Kêu Gọi Đám Đông

3. Kêu Gọi Lòng Thương

4. Kêu Gọi Quyền Lực

Quyền lực của cái duy nhất

Quyền lực của số đông

Quyền lực của số ít được lựa chọn

Quyền lực của truyền thống

5. Đánh Vào Sự Không Biết

6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi

7. Tóm Tắt

Phần III

Chương 6: Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ

1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận

2. Xây Dựng Một Bài Luận

3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng

Chương 7: Những Bài Đọc Gợi Ý


Copyright (c) 2006 by kinhtehoc.com