kinhtehoc.com

Hội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích

Login




 


 Log in Problems?
 New User? Sign Up!
Forum Stats

5 top active Forums:

5 recent Topics:

3 top active Posters:

Total:
  • Categories: 5
  • Forums: 11
  • Topics: 507
  • Posts: 861
Online
There are 16 unlogged users and 0 registered users online.

You can log-in or register for a user account here.
Wednesday, November 22, 2006 - 11:30 AM

Printer-friendly page

6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi[65]

Kiểu sai lầm kêu gọi sự sợ hãi dùng sự đe doạ tổn hại để đưa ra một kết luận của một người nào đó. Đó là loại lý lẽ mà con người và các quốc gia phải dùng đến khi họ không quan tâm đến việc đưa ra những lý do xác đáng cho quan điểm của mình. Còn được biết đến như là đung đưa câu gậy lớn[66], lý lẽ này hiếm khi giải quyết được mối bất hoà.

Lý lẽ này nên được phân biệt với kiểu đe doạ thật sự. Nếu có người dí súng vào lưng bạn và nói, "Đưa tiền đây hoặc là mất mạng," thì bạn sẽ không đáp lại như, " Ah! Thật là ngụy biện!" Nó không phải là ngụy biện bởi nó không phải là lý lẽ. Mặc dù tên trộm đang kêu gọi nỗi sợ hãi trong bạn và thậm chí đưa ra một lý do tại sao bạn nên làm những điều hắn ta yêu cầu thì hắn ta cũng không đưa ra một bằng chứng để chứng minh sự thật của lời tuyên bố. Tên trộm không phải là đang tranh cãi với bạn mà đơn giản là yêu cầu bạn. Tương tự, đây là những lời đe doạ "Nếu anh không đưa chó ra khỏi vườn cau của tôi thì tôi sẽ bắn nó," hoặc " Nếu không đi ngủ thì con sẽ ăn đòn!"

Hãy so sánh các ví dụ trên với ví dụ dưới đây, trong đó một luật sư nói với ban hội thẩm:

a. Nếu các ông không tuyên án kẻ giết người này thì một trong số các ông sẽ có thể trở thành nạn nhân của hắn.

Đây là một lý luận, và nó là một là sai lầm. Lý do chúng ta sợ mình sẽ là "nạn nhân tiếp theo" là không xác đáng để kết án. Vấn đề sợ hãi đó là không xác đáng. Được diễn tả đầy đủ thì lý lẽ này có thể được đọc như sau:

b. Các ông phải tin rằng người đàn bà này là có tội và vì thế bà ta phải bị kết án bởi nếu các ông không kết tội bà ta, bà ta sẽ được thả và cuối cùng các ông có thể trở thành nạn nhân của bà ta.

Nói rõ ràng, lý lẽ trên là sai lầm bởi điều bị cáo sẽ làm trong tương lai có thể không như vậy, và tương lai không có gì chứng minh người đó vô tội hoặc đã từng phạm tội trong quá khứ. Người bào chữa đã khơi dậy nỗi sợ hãi. Điều đó đã lừa chúng ta nghĩ rằng lý lẽ đó là xác đáng.

Sự kêu gọi nỗi sợ hãi do vậy là một lý luận sai lầm. Trong một vài trường hợp, bằng chứng có thể ngắn gọn và ẩn tàn, như trong ví dụ (a) và (b) ở trên; ở những trường hợp khác bằng chứng có thể dài hàng trang hoặc thậm chí hàng quyển. Sự giải thích dưới đây cho lời kêu gọi của người Athenian để khiến những người đại diện của đảo Melo liên kết với họ được lấy từ lịch sử Hi-lạp là một ví dụ kinh điển về sự kêu gọi sức mạnh.

c. Các anh cũng biết rõ như chúng tôi rằng, trong luật về sự tự nhiên của con người, lẽ phải chỉ trở thành vấn đề ở chỗ có sự cân bằng về quyền lực, trong khi nó có thể quyết định sức mạnh cổ vũ cái gì và cái yếu thừa nhận thừa nhận cái gì?. Vũ khí mạnh nhất của các anh là sự hy vọng thì vẫn chưa được nhận ra trong khi vũ khí trong tay các anh là cái gì đó không tương xứng để chống đối lại những sức mạnh vừa được thiết lập nhằm chống lại các anh … suy nghĩ kỹ đi … rằng các anh đang quyết định cho đất nước của mình … một đất nước mà vận mệnh phụ thuộc vào một quyết định đúng hoặc sai. (Trích từ Lịch Sử Cuộc Chiến Tranh Của Người Pelôpnnesian, chương 5)

Không phải tất cả các mối đe doạ đều được diễn đạt một cách nhẹ nhàng như vậy. Chứng ta có thể bắt gặp sự kêu gọi nỗi sợ hãi bằng thứ ngôn ngữ như dưới đây:

d. Đừng tranh cãi với tôi. Hãy nhớ ai trả lương cho anh.
e. Anh không muốn là người bị xã hội ruồng bỏ đúng không? Thế thì tốt hơn hết là ngày mai anh gặp chúng tôi.
f. Trường đại học này không cần nghiệp đoàn cho giảng viên, và các thành viên trong khoa -- những ai nghĩ rằng cần có nó thì sẽ phát hiện ra lỗi của mình vào việc xem xét lại nhiệm kỳ tới.

Những lý lẽ này là những hình thức sai lầm thô thiển. Chúng nói thẳng ra rằng mối đe doạ đang được đưa ra. Lối sai lầm trên cũng thích hợp với những mối đe doạ được che đậy.

g. Thưa ông chủ bút, tôi hy vọng rằng trò dại dột không đáng kể này của con trai tôi không có giá trị thực sự với báo chí. Tôi biết rằng các ông sẽ đồng ý rằng công ty chúng tôi bỏ ra hàng nghìn đô la để quảng cáo trên báo của các ông hàng năm.
h. Những người tị nạn đến đất nước này từ Nam Á không có quyền cố gắng giữ gìn phong tục tập quán và ngôn ngữ của họ trong khi bác bỏ những cách thức của người Mỹ. Nếu không vì những phong tục tập quán tốt đẹp của người Mỹ thì những người đó sẽ thất cơ lỡ vận.

Mặc dù những lý lẽ này không đưa ra một lời đe doạ rõ ràng, trong đó cũng có nghi ngờ nhỏ về sự tự nhiên của những lý do được đưa ra.

Sự kêu gọi nỗi sợ hãi có chiều hướng nhân lên trong những giai đoạn bị áp lực hoặc xung đột trong cả các quốc gia và cá nhân. Khi các nước sản xuất dầu ở Trung Đông giả bộ đe doạ việc cung cấp dầu đối với phương Tây vào năm 1974, ví dụ như họ phải soạn thảo một danh sách các công ty Mỹ mà họ chỉ trích để ưu tiên Israel. Điều này được hiểu như là sự đe doạ nỗi sợ hãi trực tiếp tới các công ty Mỹ. Việc đó có thể ưu tiên Israel trong mối bất hoà Arập-Israel. Tương tự, trong giai đoạn mạnh mẽ chống lại các hoạt động của Cộng Sản của hội John Birch, hội đó đã ban hành một lời tuyên bố đứng trước một danh sách các nhà quảng cáo như sau:

i. Danh sách các nhà quảng cáo được biên soạn để các thành viên của phong trào Bảo Thủ Chống Cộng có cách xác định những công ty đứng lên quan tâm đến cuộc chiến bảo vệ di sản của ngưòi Mỹ.

Mặc dù lời tuyên bố không hề có ý định nói rằng những công ty không được nhắc đến sẽ ủng hộ Cộng Sản, nhưng sự ám chỉ tới ý định đó thì thật rõ ràng. Trong tất cả các kiểu sai lầm về sự thiếu xác đáng, mục đích của lý lẽ là kêu gọi tình cảm hơn là lý trí.

· Sự kêu gọi nỗi sợ hãi là một lý lẽ sai lầm sử dụng sự đe doạ thiệt hại để đưa ra kết luận của một ai đó.

· Nó hiệu quả bởi bằng cách khuấy động đủ nỗi sợ hãi trong một người, nó có thể làm cho người ta tin vào những việc mà trong những thời điểm bình tĩnh người ta sẽ phủ nhận nó.

· Tuy nhiên chúng ta cần phân biệt lý lẽ trong đó sự đe doạ được lợi dụng với sự đe doạ thật sự.


Phần I

Chương 1: Bản Chất và Phạm Vi của Lo-gic

1. Lý Luận vừa là Một Môn Khoa Học và Môn Nghệ Thuật

2. Lo-gic là Nghiên Cứu về Tranh Luận

3. Tranh Luận và Không-Tranh-Luận

4. Loại Bỏ Sự Dông Dài

5. Những Bộ Phận Khuyết Thiếu

6. Làm Nổi Bật những Thành Phần Khả Nghi

7. Đánh Giá các Tranh Luận: Đúng, Giá Trị và Hợp Lý

8. Những Tranh Luận Suy Diễn và Quy Nạp

9. Lý Luận và Giáo Dục

10. Tóm Tắt

Chương 2: Phương Tiện Truyền Đạt của Ngôn Ngữ

1. Ngôn Ngữ và Tư Duy

2. Dấu Hiệu và Biểu Tượng

3. Từ ngữ và Vật Chất

4. Sự Hữu Dụng của Ngôn Ngữ

5. Sự Tối Nghĩa và Mơ Hồ

6. Những Tranh Luận về Từ Ngữ

7. Định Nghĩa

8. Nghệ Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp

9. Tóm Tắt

Phần II

Chương 3: Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa

0. Ngụy Biện" hay "Sai lầm"

1. Lối Nói Lập Lờ

2. Câu Nói Nước Đôi

3. Dấu Trọng Âm

4. Phép Tu Từ

5. Sự Phân Hóa và Kết Cấu

6. Tóm Tắt

Chương 4: Những Ngụy Biện của Giả Định

Bỏ Qua Những Yếu Tố Cơ Bản

1. Khái Quát Hoá

2. Gôm Đũa Cả Nắm

3. Lý Luận Rẽ Đôi

Lảng Tránh Sự Thật

4. Lập Lại Vấn Đề

5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến

6. Phức Tạp Hóa Vấn Đề

7. Biện Hộ Đặc Biệt

Bóp Méo Sự Thật

8. Tương Đồng Giả Tạo

9. Sai Nguyên Nhân

10. Lý Luận Rập Khuôn

11. Luận Điểm Không Phù Hợp

12. Tóm Tắt

Chương 5: Ngụy Biện Tính Xác Đáng.

1. Công Kích Cá Nhân

Căn nguyên

Lăng mạ

Suy diễn gián tiếp

Xem ai nói đó

Đầu độc nguồn nước

2. Kêu Gọi Đám Đông

3. Kêu Gọi Lòng Thương

4. Kêu Gọi Quyền Lực

Quyền lực của cái duy nhất

Quyền lực của số đông

Quyền lực của số ít được lựa chọn

Quyền lực của truyền thống

5. Đánh Vào Sự Không Biết

6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi

7. Tóm Tắt

Phần III

Chương 6: Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ

1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận

2. Xây Dựng Một Bài Luận

3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng

Chương 7: Những Bài Đọc Gợi Ý


Tác Giả

Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.

Morris S. Engel. Với Lý Luận Giỏi -- Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường. x/b 5th. New York: St. Martin's Press, 1994.

S. Morris Engel (Tiến Sĩ Khoa Học, Đại Học Toronto) là một giáo sư triết học tại Đại Học York ở Toronto, Ontario. Trước đó, ông dạy tại trường Đại Học Miền Nam California (University of Southern California). Những tác phẩm của ông bao gồm Nghiên Cứu Triết Học (The Study of Philosophy), 31e (1990) và Cái Bẫy của Ngôn Ngữ (The Language Trap), (1984 và 1994), bên cạnh những cuốn sách học thuật như học thuyết của Wittgenstein về sự chuyên chế của ngôn ngữ (1971).

Những mối quan tâm về học thuật của giáo sư Engel là ngôn ngữ của lo-gic và triết học. Tuy nhiên, ông cũng nổi tiếng với nhiều tác phẩm về Tiếng Đức Cổ (Yiddish). Những tác phẩm của ông gồm Dybbuk (Lên Đồng) (1974-1979), Lễ Ban Phước Hashem (Kiddish Hashem) (1977), v.v....

Phiên Dịch: Tô Yến Nhi, Võ Hồng Long, Vũ Thắng và Lê Nga

Điều Hành: Nguyễn Lưu Trọng Quyền

Phiên bản nhất này, chúng tôi dịch lại cuốn sách của Giáo Sư Morris S. Engel. Trong những phiên bản sau, chúng tôi sẽ sưu tầm những sai lầm trong các bài tham luận trên báo chí Việt Nam trong và ngoài nước. Trong thời gian sưu tầm, những ví dụ sẽ được đăng tại Phố Rùm của trang Kinh Tế Học. Kính mong độc giả quan tâm và ủng hộ, vào trang mạng trên đóng góp các ví dụ tiếng việt thực tế hơn.

[65] Fallacy Of Appeal To Fear
[66] Vì tiếng Latin cho từ cây gậy là baculum, lý lẽ này được biết đến trong tiếng Latin là argumentum ad baculum

Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.


Copyright (c) 2006 by kinhtehoc.com