kinhtehoc.com

Hội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích

Login




 


 Log in Problems?
 New User? Sign Up!
Forum Stats

5 top active Forums:

5 recent Topics:

3 top active Posters:

Total:
  • Categories: 5
  • Forums: 11
  • Topics: 507
  • Posts: 861
Online
There are 13 unlogged users and 0 registered users online.

You can log-in or register for a user account here.
Wednesday, November 22, 2006 - 11:11 AM

Printer-friendly page

2. Kêu Gọi Đám Đông[51]

Sai lầm về sự kêu gọi đám đông[52] là kiểu lý lẽ trong đó người ta kêu gọi tình cảm, đặc biệt là cảm giác quyền lực mà có thể thống trị con người trong những đám đông. Còn có tên gọi là "quyến rũ nhiều người"[53], loại sai lầm này đem lại sự chấp nhận thiếu suy nghĩ của con người đối với những ý kiến được trình bày theo cách mạnh mẽ và không tự nhiên. Sự kêu gọi quần chúng thường được nói đến là kêu gọi những bản năng thấp nhất của chúng ta, bao gồm cả những bản năng bạo loạn của chúng ta. Ngôn ngữ của những sự kêu gọi đám đông đó có xu hướng ảnh hưởng mạnh mẽ, tận dụng nhiều lối sai lầm về ngôn ngữ chúng ta đã nghiên cứu trước đây trong cuốn sách này. Thực sự là phần lớn các ví dụ về kêu gọi quần chúng liên kết với các loại sai lầm khác, kết hợp vào thành một lý lẽ dựa chủ yếu vào một phản ứng tình cảm hơn là một phản ứng có tính thuyết phục. Bằng cách làm như vậy, những lý lẽ như thế liên quan đến sự sai lầm thiếu xác thực bởi vì chúng đã không nói đến vấn đề đang được tranh luận mà thay vào đó chọn cách hướng chúng ta đến một kết luận bằng tình cảm hơn là lý trí.

Ví dụ dưới đây về sự kêu gọi quần chúng lấy từ nhà văn Westbrook Pegler, một nghiệp đoàn cung cấp quyền lợi chính trị.

a. Mayor LaGuardia -- bản thân là một thành viên hay gây làm ồn trong một đám đông được biết đến như là phong trào lao động, nhất định phải biết rằng những kẻ ăn bám xấu xa nhất, những kẻ trộm và ăn cướp bánh mì hiện giờ đang hành nghề tại nước Mỹ, và đặc biệt tại thành phố New York, là những kẻ cướp của nghiệp đoàn. Chúng đứng đầy trước cổng nghiệp đoàn; chúng thậm chí còn cướp bóc những nhân viên trong cơ quan để tiếp đãi những tên trong bọn dưới sự bảo trợ của USO và vì vậy chúng còn ăn cắp của những võ sĩ quyền anh nhà nghề - những người mà USO gây quĩ bảo trợ. Trên khắp đất nước, chúng đặt bàn tay nhơ bẩn của mình vào những gia đình nghèo và ăn trộm bánh mì, giầy dép của những đứa trẻ trong các gia đình lao động người Mỹ cực nhọc, không nơi nương tựa. LaGuardia chưa bao giờ nói một lời lên án những việc trộm cắp như vậy. Với công ty của mình cùng với hoạt động của nghiệp đoàn, ông ta đã tán thành hệ thống cướp bóc này.

Mặc dù đoạn văn này đọc nghe có vẻ như nó xảy ra một cách bộc phát, nhưng thực ra nó là kết quả của một mưu mẹo hết sức cẩn thận. Pegler không thành công trong việc hướng vào vấn đề đang được tranh cãi -- liệu hoạt động của nghiệp đoàn có phải là cướp bóc hay không và bằng cách nào. Đúng hơn là, ông ta đã dùng thứ ngôn ngữ "bốc" rất phù hợp để đưa ra một kết luận ông ta mong muốn. Mayor LaGuiardia được miêu tả như là một thành viên lao động ồn ào mà không chỉ bận rộn. Hoạt động lao động đó được biết đến chỉ đơn thuần là như vậy; Pegler cho rằng trên thực tế đó là một đám gian lận cướp bóc các gia đình lao động người Mỹ cực nhọc không nơi nương tựa và con cái của họ.

Những thành viên nghiệp đoàn như vậy là loại người như nào chứ? Pegler không bao giờ dùng những từ trực tiếp, nhưng những từ như trộm bánh mì, cướp bóc, nhúng bàn tay dơ bẩn của chúng vào các gia đình nghèo khổ và ăn trộm bánh mì, để mặc trộm cướp cho thấy rằng Pegler so sánh những thành viên nghiệp đoàn với những con chuột bẩn thỉu.

Đây là đoạn văn trích từ tạp chí Cộng Sản New Masses (19 tháng 3, năm 1946) nhằm chống lại Thủ Tướng Anh Winston Churchill sau bài nói nổi tiếng "Rèm Sắt" tại trường đại học Westminster ở Missouri:

b. Winston Churchill - tổng thư ký của Đảng Bảo Thủ, đã đến và nói chúng ta sẽ sống như thế nào. Cuộc sống mà ông ta chỉ cho chúng ta là gì? Một sự chuyên chế kiếu Anh-Mỹ áp chế cả thế giới. Ông ta nói rằng ông ta muốn sát nhập quân đội và hải quân và chống lại chủ nghĩa cộng sản. Đúng là lời lẽ thì của Churchill nhưng kế hoạch là của Hitler. Lãnh địa cướp của Churchill tại biên giới đang bị chia cắt và ông ta đề nghị người Mỹ bảo vệ nó cho ông ta. Chúng ta phải là những người hành động nhanh và chúng ta phải cung cấp cho ông ta hàng tỉ đô la để dành lại những gì mà những tên trùm cướp bóc bị mất.

Trong đoạn văn của Pegler, những cụm từ như trấn áp, lãnh địa cướp được, những người hành động nhanh, trùm cướp bóc nối theo nhau rất chặt chẽ. Chúng được đưa ra để bổ sung vào cách diễn tả Churchill như một tên cướp. Người viết không nói rằng những đề đạt của Churchill là chính xác và liệu trên thực tế những gì ông ta đề đạt có mang lại lợi ích cho nước Mỹ hay không.

Kiểu viết tố cáo này không giới hạn đối với những người có động cơ có thể từ bỏ điều gì đó mong muốn. Một vài bài nói nổi tiếng đã dùng đến phương sách này, đáng chú ý là bài nói nổi tiếng "Cây Thánh Giá Của Đức Chúa" của William Jennings được trình bày tại hội nghị chính trị vào thời điểm chuyển giao thế kỷ. Bài nói của Brian đã phản đối việc giữ bản vị vàng và chế độ hai bản vị được ưa chuộng.

c. Chúng ta không quan tâm tới việc trận chiến đang ngả về phía nào. Nếu chúng ta cho rằng chế độ hai bản vị là tốt, nhưng chúng ta không thể có nó cho đến khi các quốc gia khác giúp đỡ chúng ta. Chúng ta trả lời rằng, thay vì giữ bản vị vàng bởi nước Anh làm như vậy, chúng ta sẽ khôi phục chế độ hai bản vị, và sau đó sẽ để nước Anh giữ chế độ hai bản vị bởi nước Mỹ làm như thế. Nếu họ thách thức đánh nhau và bảo vệ bản vị vàng như là một thứ quí giá, chúng ta sẽ chiến đấu với họ đến cùng. Cuối cùng, chúng ta là đa số các dân tộc và toàn thế giới, được ủng hộ bởi quyền lợi kinh tế, quyền lợi lao động và những người lao động ở khắp mọi nơi, chúng ta sẽ đáp lợi yêu cầu của họ về bản vị vàng bằng cách nói với họ: Các anh sẽ không ấn lên trán của người lao động vòng hoa đầy gai này, các anh cũng sẽ không đóng vào con người một dấu thập ác bằng vàng.

Khi kết thúc bài nói này, Brian vươn cánh tay mình ra như thể xuyên qua một cây thánh giá. Sau đó ông ta bỏ tay xuống và đưa về phía sau. Trong một vài giây toàn bộ người nghe sững sờ, im phăng phắc. Sau đó không khí im lặng giảm dần và mọi người hoan hô ầm ầm. Những người ủng hộ Brian -- một nghị sĩ 36 tuổi, nhấc bổng ông ta trên vai và diễu ông ta khắp hội trường. Ban nhạc chơi hành khúc Sousa. Ngay ngày hôm sau, hội nghị đã chỉ định Brian làm chủ tịch.

Sự kêu gọi quần chúng là sự sai lầm bởi những lý lẽ này dựa trên những tình cảm bị khuấy động của người nghe.

d. Chính tôi là một người lao động và tôi biết phải vất vả đến mức nào để có được ngày hôm nay.
e. Vì anh giáo sư của một trường đại học, tôi biết rằng tôi có thể nói cho anh nghe những vấn đề khó khăn một cách nghiêm túc.
f. Không ai trong phòng này phủ nhận việc phải giáo dục trẻ nghiêm túc. Nhưng hãy nhớ rằng đây là trường của chúng ta và nó thuộc về con cái của chúng ta.

Kêu gọi quần chúng là cách hướng về tình cảm của đám đông mà họ đang nhắm tới, hoặc họ có thể tâng bốc đám đông, hoặc kêu gọi sự thiên vị của quần chúng. Họ cũng lợi dụng nhu cầu cần thiết của chúng ta để cảm nhận rằng chúng ta thuộc về một nhóm nào đó, bất kể nhóm đó có tồn tại hay không, và thế là nhóm đó thuộc về lẽ phải. Khi chúng ta đọc bài viết của Pegler, chúng ta cảm thấy rằng chúng ta phải đứng về phía ông ta (chống lại LaGuardia và người lao động) và thuộc về nhóm người đang bị chửi rủa và phỉ báng. Sự kêu gọi quần chúng tạo ra một kịch bản mà trong đó chúng ta thật khó có thể diễn tả quan điểm chống đối, bởi vì làm như vậy là thách thức "đám đông" và sẽ bị loại trừ hay xa lánh. Sự kêu gọi quần chúng đem lại cho chúng ta cảm giác hơn là sức thuyết phục lý trí của một luận điểm. Những cảm giác, tuy nhiên không thể tạo nên bằng chứng cho sự thật của một kết luận.

Bài điếu văn nổi tiếng của Mark Antony trước xác của Caesar trong tác phẩm Julius Ceasar của William Shakespeare (cảnh 3, chương 2) là một ví dụ tuyệt vời về sự kêu gọi quần chúng. Bài điếu văn đã đáp lại sự chú ý bởi những kỹ xảo mà nó dùng là niềm tin nghề nghiệp của những người tryền giáo và căm ghét sự buôn bán. Antony đã được quyền đọc bài điếu văn bởi vì kẻ ám sát Ceasar tin rằng anh ta sẽ đề cập đến vụ giết người một cách thông cảm. Đám đông đã được Brutus diễn thuyết đầu tiên. Ông ta là người sợ rằng Caesar, người đang chuẩn bị để trở thành người có quyền hành tuyệt đối tại thành Rome, đã âm mưu với những kẻ khác giết Caesar. Brutus thuyết phục đám đông rằng anh ta giết Caesar vì thành Rome tươi đẹp, và đám đông than phiền rằng Brutus có thế sẽ trở thành Caesar tiếp theo. Nhưng Brutus đã bắt mọi người phải im lặng và thuyết phục họ nghe Antony ca ngợi người lãnh đạo Caesar đã chết. Antony, thay vào đó, dùng những cơ hội để kích động đám đông chống lại Brutus và những kẻ đồng mưu, làm như vậy với một kỹ thuật mà chỉ trong một thời gian ngắn, biến quần chúng thành những người nô lệ sẵn sàng cho âm mưu của ông ta.

· Sự kêu gọi quần chúng là một sai lầm trong đó người ta cố gắng khích động mọi người phản ứng theo một cách nào đó bằng cách sử dụng những lời nói có thế khuấy động những cảm xúc mạnh mẽ.

· Những kỹ thuật được sử dụng bao gồm: biểu lộ tư tưởng cao, lòng yêu nước, nói bóng gió, mỉa mai, lặp lại, nói dối trắng trợn, *.*.

· Mặc dù những sự kêu gọi như vậy thường có vẻ như là chân thành và diễn tả tình cảm sâu sắc một cách tự phát, trong phần lớn các trường hợp, chúng là kết quả của mưu mẹo cẩn thận nhất.


Phần I

Chương 1: Bản Chất và Phạm Vi của Lo-gic

1. Lý Luận vừa là Một Môn Khoa Học và Môn Nghệ Thuật

2. Lo-gic là Nghiên Cứu về Tranh Luận

3. Tranh Luận và Không-Tranh-Luận

4. Loại Bỏ Sự Dông Dài

5. Những Bộ Phận Khuyết Thiếu

6. Làm Nổi Bật những Thành Phần Khả Nghi

7. Đánh Giá các Tranh Luận: Đúng, Giá Trị và Hợp Lý

8. Những Tranh Luận Suy Diễn và Quy Nạp

9. Lý Luận và Giáo Dục

10. Tóm Tắt

Chương 2: Phương Tiện Truyền Đạt của Ngôn Ngữ

1. Ngôn Ngữ và Tư Duy

2. Dấu Hiệu và Biểu Tượng

3. Từ ngữ và Vật Chất

4. Sự Hữu Dụng của Ngôn Ngữ

5. Sự Tối Nghĩa và Mơ Hồ

6. Những Tranh Luận về Từ Ngữ

7. Định Nghĩa

8. Nghệ Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp

9. Tóm Tắt

Phần II

Chương 3: Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa

0. Ngụy Biện" hay "Sai lầm"

1. Lối Nói Lập Lờ

2. Câu Nói Nước Đôi

3. Dấu Trọng Âm

4. Phép Tu Từ

5. Sự Phân Hóa và Kết Cấu

6. Tóm Tắt

Chương 4: Những Ngụy Biện của Giả Định

Bỏ Qua Những Yếu Tố Cơ Bản

1. Khái Quát Hoá

2. Gôm Đũa Cả Nắm

3. Lý Luận Rẽ Đôi

Lảng Tránh Sự Thật

4. Lập Lại Vấn Đề

5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến

6. Phức Tạp Hóa Vấn Đề

7. Biện Hộ Đặc Biệt

Bóp Méo Sự Thật

8. Tương Đồng Giả Tạo

9. Sai Nguyên Nhân

10. Lý Luận Rập Khuôn

11. Luận Điểm Không Phù Hợp

12. Tóm Tắt

Chương 5: Ngụy Biện Tính Xác Đáng.

1. Công Kích Cá Nhân

Căn nguyên

Lăng mạ

Suy diễn gián tiếp

Xem ai nói đó

Đầu độc nguồn nước

2. Kêu Gọi Đám Đông

3. Kêu Gọi Lòng Thương

4. Kêu Gọi Quyền Lực

Quyền lực của cái duy nhất

Quyền lực của số đông

Quyền lực của số ít được lựa chọn

Quyền lực của truyền thống

5. Đánh Vào Sự Không Biết

6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi

7. Tóm Tắt

Phần III

Chương 6: Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ

1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận

2. Xây Dựng Một Bài Luận

3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng

Chương 7: Những Bài Đọc Gợi Ý


Tác Giả

Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.

Morris S. Engel. Với Lý Luận Giỏi -- Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường. x/b 5th. New York: St. Martin's Press, 1994.

S. Morris Engel (Tiến Sĩ Khoa Học, Đại Học Toronto) là một giáo sư triết học tại Đại Học York ở Toronto, Ontario. Trước đó, ông dạy tại trường Đại Học Miền Nam California (University of Southern California). Những tác phẩm của ông bao gồm Nghiên Cứu Triết Học (The Study of Philosophy), 31e (1990) và Cái Bẫy của Ngôn Ngữ (The Language Trap), (1984 và 1994), bên cạnh những cuốn sách học thuật như học thuyết của Wittgenstein về sự chuyên chế của ngôn ngữ (1971).

Những mối quan tâm về học thuật của giáo sư Engel là ngôn ngữ của lo-gic và triết học. Tuy nhiên, ông cũng nổi tiếng với nhiều tác phẩm về Tiếng Đức Cổ (Yiddish). Những tác phẩm của ông gồm Dybbuk (Lên Đồng) (1974-1979), Lễ Ban Phước Hashem (Kiddish Hashem) (1977), v.v....

Phiên Dịch: Tô Yến Nhi, Võ Hồng Long, Vũ Thắng và Lê Nga

Điều Hành: Nguyễn Lưu Trọng Quyền

Phiên bản nhất này, chúng tôi dịch lại cuốn sách của Giáo Sư Morris S. Engel. Trong những phiên bản sau, chúng tôi sẽ sưu tầm những sai lầm trong các bài tham luận trên báo chí Việt Nam trong và ngoài nước. Trong thời gian sưu tầm, những ví dụ sẽ được đăng tại Phố Rùm của trang Kinh Tế Học. Kính mong độc giả quan tâm và ủng hộ, vào trang mạng trên đóng góp các ví dụ tiếng việt thực tế hơn.

[51] Fallacy of Mob Appeal
[52] Tên Latinh là argumentum ad popolum, có nghiã đen là "kêu gọi mọi người". Giống như nghĩa của từ popular, thuật ngữ populum có hàm nghĩa nhất định chỉ sự chấp thuận của đại đa số mà không cần suy xét có suy nghĩ.
[53] appeal to the massses
[54] Fallacy of Appeal to Pity

Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.


Copyright (c) 2006 by kinhtehoc.com