kinhtehoc.com

Hội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích

Login




 


 Log in Problems?
 New User? Sign Up!
Forum Stats

5 top active Forums:

5 recent Topics:

3 top active Posters:

Total:
  • Categories: 5
  • Forums: 11
  • Topics: 507
  • Posts: 861
Online
There are 18 unlogged users and 0 registered users online.

You can log-in or register for a user account here.
Sunday, April 30, 2006 - 12:39 PM

Printer-friendly page
Lý Luận

Phần II

Chương 3

Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa[3]

Tô Yến Nhi dịch

2. Câu Nói Nước Đôi[6]

Chúng ta vừa lưu ý sự nhầm lẫn có thể nảy sinh như thế nào từ sự tối nghĩa của một từ hay ngữ đơn lẻ. Bây giờ chúng ta muốn tiếp tục và thấy sự nhầm lẫn có thể nảy sinh như thế nào từ sự tối nghĩa của cấu trúc câu và sự tham khảo như trong trường hợp của ba sai lầm kế tiếp: câu nước đôi, dấu trọng âm và cú pháp. Chúng ta hãy bắt đầu với câu nước đôi.

Sự sai lầm của câu nước đôi[7] là sản phẩm của cấu trúc câu nghèo nàn. Nó xãy ra khi những từ ngữ không chính xác hoặc được ghép lỏng lẻo trong một câu, làm phát sinh một ý nghĩa ngoài dự kiến của tác giả.

a. Sự phát triển mới về nhà ở. Những ngôi nhà đẹp có ngay tức thì. Ở đó trước đi! Chúng sẽ không kéo dài lâu.
b. Những quý bà trong Hội truyền giáo đường Walnut đã vứt bỏ quần áo. Họ mời các bạn đến và kiểm tra họ.

Sự nhầm lẫn và sự tối nghĩa trong hai ví dụ này là rất rành mạch chúng không cần giải nghĩa. Bây giờ chúng không phải là tiêu biểu cho những thông cáo đông đảo mà chúng ta thấy ở khắp nơi.

Nhiều ví dụ về sự tối nghĩa là sản phẩm của sự sai sót về văn phạm như cách sử dụng những danh từ hay đại danh từ tối nghĩa (như hai ví dụ trên), hay nghệ thuật chấm câu không thích hợp, từ bổ nghĩa không xác định. Một vài ví dụ điển hình:

c. Bạn cần phải nhớ những nhiệm vụ xã hội của bạn. Nếu bạn không đến tang lễ của người khác, họ sẽ không đến trong lễ tang của bạn. (Ai sẽ không tới? Người chết được chôn cất hay thân nhân của người chết?)
d. Tín hiệu giao thông: Trẻ Em Qua đường Chậm Lại. (tín hiệu báo những người điều khiển ô-tô rằng trẻ em đang qua đường chậm, hay một tín hiệu chỉ thị họ chậm lại cho trẻ em qua đường?)
e. Ở tốc độ 2,200 vòng quay một phút, người giúp việc đã tắt máy phát điện. (Ai hay cái gì "ở tốc độ 2,200 vòng quay một phút"? Người giúp việc hay máy phát điện?)

Thỉnh thoảng sai sót là kết quả từ việc sử dụng những từ ngữ ít hơn yêu cầu để thiết lập ngữ cảnh.

f. Chúng tôi giao thuốc chính xác. (Khẩu hiệu của những dược sĩ).
g. Vừa mới nhận! Một nguồn cung cấp áo sơ mi thể thao nam từ 15 đến 19 vòng cổ.

Những cột quảng cáo được phân loại trong báo hàng ngày là một nguồn dồi dào những lối viết lơ đễnh như thế, như trong trường hợp người bạn mà quảng cáo bán con chó của anh ta bằng cách nói con chó "ăn được mọi thứ và rất thích trẻ con". (TQ hiệu đính, có ăn luôn trẻ con không?)

Bởi vì chúng ta phải làm cô đọng ý nghĩa trong vài từ ngữ hơn, báo chí đặt đầu đề cũng dễ xãy ra những lỗi của sự tối nghĩa.

h. Kẻ Sát Nhân Nói Nạn Nhân Đã Săn Đuổi Hắn Với Một Lưỡi Dao Cạo. (TQ hiệu đính, nạn nhân lúc đó sống hay chết?)
i. Những Công Nhân Xưỡng Tàu Đã Tập Hợp Để Đình Công Ở Cảng Đại Tây Dương. Nguyên văn: "Dock Workers Set to Walk Out in Atalantic Ports". (TQ hiệu đính, walk out or set out).

Bảng quảng cáo, tín hiệu và thông cáo được viết vội vàng, tất cả đều sử dụng ngôn ngữ súc tích, như đầu đề của báo chí, hay những nguồn khác thường xuyên của câu nước đôi.

Một vài phút suy nghĩ có thể hạn chế những lỗi này, nguyên nhân không phải là thiếu khoảng trống mà hình như cẩu thả. Những từ ngữ được nhóm lại với nhau trong những hình thức mà tạo nên tối nghĩa góp phần vào sai sót của câu nước đôi.

j. Cuộc hôn nhân của cô Anna Black và ông Willis Dash đã được loan tin trên báo này một vài tuần trước là một lỗi lầm và chúng tôi muốn đính chính. (TQ hiệu đính, đính chính cái gì: hôn nhân của Anna và Willis hay đính chính việc loan tin).
k. Cảnh sát có thẩm quyền đang tìm cách giải quyết các vụ án mạng (murders) càng ngày càng khó khăn, vì nạn nhân không chịu hợp tác với cảnh sát. (TQ hiệu đính, nạn nhân còn sống hay chết? Nếu còn sống thì đâu có thể nói vụ án mạng (murders) được. Nếu chết thì làm sao nạn nhân hợp tác với cảnh sát được? Nói đúng thì phải trình bày như sau, thân nhân của các nạn nhân không chịu hợp tác với cảnh sát).

Giả định cho rằng những độc giả "sẽ hiểu bạn muốn nói gì", thậm chí nếu bạn không trình bày một cách rõ ràng, sẽ trở nên nguy hiểm trong việc hiểu lầm khi đề tài càng phức tạp hơn.

Mặc dù tất cả chúng ta đều tìm trong câu nước đôi một sai sót nảy sinh từ cấu trúc câu không hoàn chỉnh của một câu đơn, sai sót có thể cũng là kết quả từ việc sắp xếp không hợp lý hai câu cạnh nhau.

l. Giấy chứng nhận từ một công ty bảo hiểm: Tôi và chồng tôi đã ký một hợp đồng bảo hiểm nhà ở với công ty ông. Chưa đầy một tháng nhà của chúng tôi ngẫu nhiên bị cháy. Tôi coi đó như là một sự may mắn. (May mắn vì nhà của họ cháy, hay họ cũng có bảo hiểm?)

Thậm chí nếu chúng ta chấp nhận điều phi lý của những sai sót của câu nước đôi là không có chủ ý, mối quan tâm của chúng ta về những người phạm sai sót được giảm bớt. Nếu tác giả đủ thận trọng để đoán trước rằng những lời phát biểu của họ đã mở ra những cách hiểu khôi hài, dĩ nhiên là họ sẽ xem lại chúng.

Thuộc về một phạm trù khác là cách sử dụng có ý thức và chủ tâm của phương sách. Một ví dụ là lời tiên tri của phù thủy trong Henry VI , Phần II (màn 1, cảnh 4) của Văn Hào Shakespeare: "Công tước còn sống Henry sẽ truất phế" bà ta nói, như thế ý nghĩa không rõ ràng là "Henry sẽ truất phế Công tước" hay " Công tước sẽ truất phế Henry". ( Bà ta không thể làm cho ý nghĩa của mình rõ ràng bằng những đại từ thay thế như "ai" hay "người mà"). Tuy nhiên, một thí dụ thú vị hơn theo lối văn của Shakespear là lời tiên tri của phù thủy trong Macbeth:

m. Hãy vấy máu, dũng cảm và kiên quyết; cười nhạo sức mạnh của nam giới, không phải con của phụ nữ nào sinh nở để làm hại Macbeth. (màn 4, cảnh 1)

"Không phải con của phụ nữ nào sinh nở" tạo nên một sự dối trá cay nghiệt: kẻ thù của Mabeth, Macduff, đã được "tách ra sớm từ dạ con của mẹ anh ta" hay được sinh bằng cách phẫu thuật, và vì thế Macduff không phải là đứa con do "phụ nữ sinh nở" trong ý nghĩa thông thường. Do đó, phù thủy không nói dối Macbeth, nhưng bà ta cũng không nói cho ông ta biết chính xác về sư thật.

Vì lẽ có sác xuất của sự tối nghĩa khi chúng ta tuyên thệ trước toà án, chúng ta không thề sẽ "nói sự thật" (vì chúng ta có thể nói một phần sự thật), thậm chí không thề sẽ "nói sự thật, toàn bộ sự thật" (vì nếu như thế, chúng ta cũng có thể thêm vào một vài lời nói dối, bởi vì lời thề đâu có cấm không làm như thế), nhưng đúng hơn là "nói sự thật, toàn bộ sự thật, và không có gì ngoài sự thật". Mụ phù thủy bị ràng buộc bởi lời thề và sự tuyên thệ đó, bà ta không thể làm lung lạc Macbeth bằng phương thức ngoại lệ đó.

Câu nước đôi được sử dụng để đánh lừa không chỉ trong tiểu thuyết. Một ví dụ tiêu biểu là câu truyện liên quan đến Croesus và nhà tiên tri ở Delphi. Sự suy tính chiến tranh với Ba Tư, Croesus đã hỏi ý kiến nhà tiên tri về hậu quả. Ông ta nhận được lời tuyên bố của nhà tiên tri "nếu Croesus tham chiến với Cyrus, Croesus sẽ huỷ diệt vương quốc hùng mạnh". Thích thú với lời tiên tri này, nhà triệu phú tham chiến và thất bại nhanh chóng. Phàn nàn của nhà tiên tri, Croesus nhận được câu trả lời đính chính của nhà tiên tri: "Khi tham chiến, ông ta sẽ hủy diệt một vương quốc hùng mạnh - của chính mình!" Điều này được đưa ra quan toà Herodotus, nhà sử học đầu tiên của Hy Lạp, người đã trừng trị Croesus vì tội ngu:

"Giống như lời tiên tri nói, Croesus không có quyền phàn nàn về điều đó… Nếu muốn có lời khuyên rõ ràng, thì ông nên gửi thư và hỏi rằng thượng đế có nói gì về vương quốc của Creosus hay của Cyrus? Nhưng ông không hiểu vương quốc nào được đề cập tới, cũng không đặt ra câu hỏi sâu xa hơn: tại sao bây giờ ông tự trách bản thân mình?" (The Histories, quyển 1, chương 91)

Bên cạnh những ví dụ xa xưa hay văn chương, những trường hợp được ghi lại về cuộc sống và số phận của những người được đó và mất đó vì kết quả của sự tối nghĩa. Một ví dụ thú vị và nổi tiếng là trường hợp của tù nhân người Nga, người mà tìm cách thoát khỏi nhà tù Siberia bằng cách khẩn khoản xin Nga hoàng tha thứ. Yêu cầu khẩn khoản đó được đáp bằng một câu trả lời không có dấu chấm câu, "Ân Xá Không Thể Thi Hành". Ông ta muốn nói tù nhân sẽ bị hành quyết (dấu chấm câu được đặt sau từ "không thể"), nhưng tổng cai ngục lại đọc thành "Ân Xá. Không Thể Thi Hành (án)" và phóng thích tên tù nhân. Sau đó tình trạng của người cai ngục làm thế nào mà không bị liên can; tất nhiên khi lỗi được phát hiện, anh ta bị thế chổ cho tên tù nhân - đó là cách xét xử tù nhân tiêu biểu của Nga hoàng .

Câu nước đôi cũng có khả năng được khai thác cho những mục đích có lợi. Một thí dụ điển hình là một đĩa ghi âm có đầu đề là "Những bài hát hay nhất (Best) của the Beatles", làm cho mọi người mua nó và tin tưởng rằng ho đã mua một đĩa hát có những bài hát hay nhất của the Beatles. Sau đó họ nghe tại nhà, họ phát hiện rằng họ đã mua một đĩa hát của Peter Best, người từng là thành viên của the Beatles (tay trống của họ) trước đó trong sự nghiệp của nhóm.

· Câu nước đôi là sự sai lầm của một câu không hoàn chỉnh, hay được cấu trúc không cẩn trọng, dễ gây hiểu lầm.

· Cách sử dụng những đại từ/ danh từ tối nghĩa, nghệ thuật chấm câu không hợp lý, và những bổ nghĩa không chính xác là một số lỗi văn phạm thường xãy ra trong sai sót.

· Những nguồn gốc khác của sự sai sót là: sự thiếu khả năng của chúng ta điều chỉnh trật tự cho các từ ngữ làm thay đổi ngữ cảnh; kết quả của chúng ta là quá ngắn gọn; vị trí không thích hợp của hai câu cạnh nhau; và sự vụng về trong cách hành văn thông thường.


Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.

Phần I

Chương 1: Bản Chất và Phạm Vi của Lo-gic

1. Lý Luận vừa là Một Môn Khoa Học và Môn Nghệ Thuật

2. Lo-gic là Nghiên Cứu về Tranh Luận

3. Tranh Luận và Không-Tranh-Luận

4. Loại Bỏ Sự Dông Dài

5. Những Bộ Phận Khuyết Thiếu

6. Làm Nổi Bật những Thành Phần Khả Nghi

7. Đánh Giá các Tranh Luận: Đúng, Giá Trị và Hợp Lý

8. Những Tranh Luận Suy Diễn và Quy Nạp

9. Lý Luận và Giáo Dục

10. Tóm Tắt

Chương 2: Phương Tiện Truyền Đạt của Ngôn Ngữ

1. Ngôn Ngữ và Tư Duy

2. Dấu Hiệu và Biểu Tượng

3. Từ ngữ và Vật Chất

4. Sự Hữu Dụng của Ngôn Ngữ

5. Sự Tối Nghĩa và Mơ Hồ

6. Những Tranh Luận về Từ Ngữ

7. Định Nghĩa

8. Nghệ Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp

9. Tóm Tắt

Phần II

Chương 3: Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa

0. Ngụy Biện" hay "Sai lầm"

1. Lối Nói Lập Lờ

2. Câu Nói Nước Đôi

3. Dấu Trọng Âm

4. Phép Tu Từ

5. Sự Phân Hóa và Kết Cấu

6. Tóm Tắt

Chương 4: Những Ngụy Biện của Giả Định

Bỏ Qua Những Yếu Tố Cơ Bản

1. Khái Quát Hoá

2. Gôm Đũa Cả Nắm

3. Lý Luận Rẽ Đôi

Lảng Tránh Sự Thật

4. Lập Lại Vấn Đề

5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến

6. Phức Tạp Hóa Vấn Đề

7. Biện Hộ Đặc Biệt

Bóp Méo Sự Thật

8. Tương Đồng Giả Tạo

9. Sai Nguyên Nhân

10. Lý Luận Rập Khuôn

11. Luận Điểm Không Phù Hợp

12. Tóm Tắt

Chương 5: Ngụy Biện Tính Xác Đáng.

1. Công Kích Cá Nhân

Căn nguyên

Lăng mạ

Suy diễn gián tiếp

Xem ai nói đó

Đầu độc nguồn nước

2. Kêu Gọi Đám Đông

3. Kêu Gọi Lòng Thương

4. Kêu Gọi Quyền Lực

Quyền lực của cái duy nhất

Quyền lực của số đông

Quyền lực của số ít được lựa chọn

Quyền lực của truyền thống

5. Đánh Vào Sự Không Biết

6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi

7. Tóm Tắt

Phần III

Chương 6: Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ

1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận

2. Xây Dựng Một Bài Luận

3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng

Chương 7: Những Bài Đọc Gợi Ý


Tác Giả

Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.

Morris S. Engel. Với Lý Luận Giỏi -- Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường. x/b 5th. New York: St. Martin's Press, 1994.

S. Morris Engel (Tiến Sĩ Khoa Học, Đại Học Toronto) là một giáo sư triết học tại Đại Học York ở Toronto, Ontario. Trước đó, ông dạy tại trường Đại Học Miền Nam California (University of Southern California). Những tác phẩm của ông bao gồm Nghiên Cứu Triết Học (The Study of Philosophy), 31e (1990) và Cái Bẫy của Ngôn Ngữ (The Language Trap), (1984 và 1994), bên cạnh những cuốn sách học thuật như học thuyết của Wittgenstein về sự chuyên chế của ngôn ngữ (1971).

Những mối quan tâm về học thuật của giáo sư Engel là ngôn ngữ của lo-gic và triết học. Tuy nhiên, ông cũng nổi tiếng với nhiều tác phẩm về Tiếng Đức Cổ (Yiddish). Những tác phẩm của ông gồm Dybbuk (Lên Đồng) (1974-1979), Lễ Ban Phước Hashem (Kiddish Hashem) (1977), v.v....

Phiên Dịch: Tô Yến Nhi, Võ Hồng Long, Vũ Thắng và Lê Nga

Điều Hành: Nguyễn Lưu Trọng Quyền

Phiên bản nhất này, chúng tôi dịch lại cuốn sách của Giáo Sư Morris S. Engel. Trong những phiên bản sau, chúng tôi sẽ sưu tầm những sai lầm trong các bài tham luận trên báo chí Việt Nam trong và ngoài nước. Trong thời gian sưu tầm, những ví dụ sẽ được đăng tại Phố Rùm của trang Kinh Tế Học. Kính mong độc giả quan tâm và ủng hộ, vào trang mạng trên đóng góp các ví dụ tiếng việt thực tế hơn.

[3] Fallacies of Ambiguity
[6] Fallacy of Amphiboly
[7] Câu nước đôi xuất phát từ tiếng Hy Lạp là "ampho", có nghĩa là "gấp đôi" hay " cả hai mặt". Về nguồn gốc, nó có liên quan mật thiết với sự tối nghĩa.

Copyright (c) 2006 by kinhtehoc.com